Tư vấn miễn phí: 1800.1044

11 loại tổn thương da cơ bản thứ phát

Ngày đăng: 24-10-2019

    Xác định được loại thương tổn da cơ bản có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chẩn đoán xác định các bệnh lý ngoài da. Có 2 loại tổn thương da cơ bản là tiên phát và thứ phát. Các tổn thương da cơ bản thứ phát là thương tổn đã bị biến dạng trong quá trình bệnh lý do hậu quả của bệnh hoặc do điều trị tạo nên.

   11 Loại thương tổn da cơ bản thứ phát là: vảy da, vảy tiết, xước da, vết trợt, vết nứt, vết loét, teo da, đốm da, sẹo, xơ và lichen hóa.

 

 

Vảy da

Đó là những lát mỏng của lớp sừng tách ra từ thượng bì hoặc do rối loạn sừng hóa.

Vảy da có thể là 1 hiện tượng sinh lý bình thường của da (bong vảy da trẻ sơ sinh). Nhưng cũng có thể là bệnh lý làm cho lớp sừng bong ra quá mức.

Vảy da có thể nhỏ như bụi phấn, rất dễ bong ra như bệnh lang ben, viêm da dầy, vảy phấn đỏ chân lông, vảy phấn hồng Gibert.

Vảy da có thể bong ra như mica, dính như xà cừ và bong ra thành mảng trong bệnh vảy nến.

Vảy da có thể trông như vảy đồi mồi hoặc như vảy cá trong bệnh vảy cá.

 

Vảy tiết

Vảy tiết do các chất xuất tiết (mủ, huyết thanh, máu) khô lại mà thành. Các loại vảy tiết bao gồm:

+ Vảy huyết thanh có màu ngà ngà như vảy tiết trong bệnh chàm.

+ Vảy mủ có màu vàng hoặc màu như mật ong trong bệnh chốc.

+ Vảy máu có màu thẫm hoặc nâu đen như vảy tiết trong bệnh viêm da mủ hoại tử, viêm mao mạch hoại tử. 

+ Vảy máu + mủ có màu đen xen lẫn màu vàng.

Hình dáng của vảy tiết do hình dáng thương tổn lỏng quyết định. Có thể gặp vảy tiết thành dải, hình tròn, hình bầu dục hoặc hình xoáy tròn như vảy ốc.

 

Xước da

Xước da do cào, gãi hoặc sau 1 chấn thương nông khiến cho da mất đi 1 phần thượng bì. Khi khỏi thì vết xước thường không để lại sẹo mà để lại 1 vệt đậm màu.

 

Vết trợt

Vết trợt là những thương tổn rất nông do mất đi 1 phần thượng bì. Khi khỏi thì vết trợt cũng sẽ không để lại sẹo.

 

Vết nứt

Vết nứt có thể xuất hiện ở lòng bàn tay, bàn chân hoặc nứt ở nếp gấp khoeo, nếp gấp cổ chân hay nứt mép. 

 

Vết loét

Vết loét được tạo thành do mất da đến trung bì hoặc hạ bì. Sau khi khỏi thì vết loét sẽ để lại sẹo.

Có rất nhiều bệnh ngoài da có thương tổn loét như loét hạ cam, loét hoại tử, loét do giãn tĩnh mạch, loét do vi khuẩn lao…

 

Teo da

Teo da do thượng bì hoặc trung bì nông mỏng đi đôi khi trông thấy mạng lưới mao mạch dưới da.

Nguyên nhân của teo da do sự biến đổi (thoái hóa) của tổ chức liên kết hoặc tổ chức đàn hồi.

Các trường hợp có teo da như:

+ Teo da sau tiêm corticoid.

+ Teo da trong bệnh viêm da đầu chi teo (bệnh Pick – Herxheimer)

+ Lichen xơ teo, teo da trong bệnh lao sần hoại tử.

 

Đốm da

Đốm da là đám da có nhiều màu sắc phối hợp với teo da, rối loạn sắc tố và giãn mạch.

 

Sẹo

Một thương tổn mất da đến trung bì và hạ bì thì khi lành sẽ để lại sẹo. 

Sẹo có thể bằng phẳng với mặt da, thấp hơn so với mặt da (sẹo lõm, sẹo teo) hoặc nổi lên trên bề mặt da (sẹo lồi, sẹo quá phát).

 

Xơ là 1 thương tổn da cứng, không thể làm thành nếp da được do collagen ở trung bì đặc lại.

Ví dụ: xơ cứng bì khu trú hoặc lan tỏa, xơ cứng da đầu chi.

 

Lichen hóa

Lichen hóa là thuật ngữ nhằm chỉ 1 đám da dày, thẫm màu, thâm nhiễm, các nếp da nổi rõ có ngứa mạn tính do cào gãi lâu ngày.

Lichen hóa còn có tên việt hóa là hằn cổ trâu. 

 

Đặt câu hỏi cho chuyên gia

Chuyên gia tư vấn

Đặt hàng online

BoniBeauty

360.000đ

BoniSnow

400.000đ

Báo chí nói về chúng tôi

Đăng ký nhận ưu đãi, tư vấn

Tích điểm
Tặng quà
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
Hotline: 1800 1044